[TRUYỆN SÁNG TÁC] NGHIỆP TRẦM BẾN LƯƠNG

[TRUYỆN SÁNG TÁC] NGHIỆP TRẦM BẾN LƯƠNG

Chương 15

21/10/2026 14:12

Bia đ/á chuộc tội

Màn sương sớm bồng bềnh dâng trên mặt sông Lương, quấn lấy những bụi lau sậy ngả nghiêng bên bờ đất lở. Tiếng đục đ/á chan chát vọng ra từ doi cát, đều đặn gõ vào không gian tĩnh mịch của làng Đông Cổ.

Đỗ Lương ngồi xổm bên mép nước, chiếc búa sắt trên tay nện từng nhịp dứt khoát xuống đuôi đục thép. Phiến đ/á xanh dài hơn bốn thước, dày gần gang tay, được chàng cùng mấy người bạn chài kéo từ mỏ đ/á dưới mạn ngược về bến đò từ sẩm tối hôm trước. Bụi đ/á mạt li ti bay lên, bám vào sống mũi cay sè, vương trắng xóa hai ống tay áo nâu sồng đã bạc phếch.

Dưới mũi đục sắc lẹm, từng nét chữ Nôm chân phương dần hiện ra trên mặt đ/á phẳng:

*"Tội nhân Đỗ Văn Thiết, bến Lương chèo đò... sám hối tạ tội cùng oan h/ồn mẫu tử..."*

Mỗi nhát búa giáng xuống, thớ th!t nơi bả vai Đỗ Lương lại căng cứng. Những vết chai sần trong lòng bàn tay do hơn mười năm cầm sào vớt x/ác nay tì ch/ặt vào cán búa gỗ nghiến, bật ra vài vệt tơ m/áu đo đỏ nơi kẽ ngón. Nhưng cánh tay chàng chưa từng dừng lại. Năm xưa, trên khúc sông này, người cha quá cố của chàng vì mười lượng bạc nhơ bẩn mà buông tay chèo, làm ngơ trước chiếc lồng tre chìm dần vào xoáy nước. Món n/ợ ấy, dẫu chín mươi chín vết ch/ém trên báng sào lim đã thả trôi theo dòng nước lớn hôm qua, thì vết nhơ đ/è nặng lên lương tâm vẫn cần một mốc neo nơi trần thế để răn dạy con cháu đời sau.

Khói lam chiều hôm qua đã tan hết, sáng nay mặt sông phẳng lặng trôi xuôi, không còn ngầu đỏ màu phù sa pha m/áu, cũng chẳng còn nổi lên những váng đen hôi tanh của oan nghiệp hai mươi năm tích tụ. Nước sông chỉ khẽ vỗ bì bọp vào mạn chiếc thuyền nan con gác mũi nơi bờ cát.

Tiếng bước chân giẫm lên sỏi cát lạo xạo kéo Lương ra khỏi dòng suy nghĩ.

Chàng dừng búa, ngẩng đầu. Thục đang từ triền đê bước xuống, hai tay bưng chiếc rá tre Iót lá chuối tươi, trên phủ mảnh vải điều giữ nhiệt. Một làn hơi ấm bốc lên nghi ngút, mang theo hương gạo nếp cái hoa vàng đồ đỗ xanh ngọt bùi, xua đi cái se lạnh của giọt sương mai đọng trên vai áo chàng.

Thục đặt chiếc rá tre lên một mỏm đ/á nhẵn cạnh chỗ Lương ngồi. Nàng không ra dấu ồn ào, chỉ lẳng lặng kéo góc khăn vuông lau đi vệt mồ hôi đầm đìa cùng lớp bụi đ/á bám nơi gò má rám nắng của Lương. Đầu ngón tay nàng ráp ráp mùi tro nhang, nhưng hơi ấm từ lòng bàn tay lại dịu dàng như vạt nắng đầu ngày.

Từ trong giỏ cói đeo bên hông, Thục lấy ra một chiếc bát sành hoa lam sứt miệng, rót đầy thứ nước vối hãm đặc màu đỏ sẫm. Mùi ngai ngái, ngòn ngọt của lá vối nụ đượm khói bếp lan tỏa trong bờ bãi. Nàng đưa hai tay dâng bát nước về phía Lương, đôi mắt đen láy trong veo ánh lên sự yên định lạ thường.

Lương đón lấy bát gốm, uống một hơi cạn sạch. Vị chát nhẹ nơi đầu lưỡi rồi ngọt dần nơi cổ họng khiến lồng ngựk chàng như mở rộng ra, tan biến đi cảm giác khô rát sau hàng giờ hít thở bụi đ/á. Chàng nhìn nàng, khẽ gật đầu:

— Đục xong dòng cuối này, ta sẽ dựng bia lên mép bãi bồi, ngay sát gốc đa cổ thụ.

Thục mỉm cười, đôi môi mỏng khẽ mím lại, gật đầu tán đồng. Nàng xới một nắm xôi nếp dẻo quánh, đặt vào lòng bàn tay Lương, rồi tự mình ngồi xuống bên phiến đ/á, dùng chiếc chổi rơm nhỏ quét sạch lớp mạt đ/á vụn vừa rơi ra khỏi các rãnh chữ.

Đúng lúc ấy, từ phía con đường đ/ộc đạo dẫn ra bến sông rộ lên tiếng bước chân rậm rịch cùng tiếng đò/n tre kĩu kịt.

Lương nheo mắt nhìn qua rặng dâu da xoan ven bãi. Đi đầu là ông trùm bến họ Đỗ, mái tóc hoa râm búi tó củ hành, vai vác hai cây luồng bánh tẻ dài ngoằng, bóng nhẫy dầu lau. Theo sau lưng ông là hơn chục trai làng Đông Cổ và dân chài lưới xóm Bến, người khiêng bó tre cọc, kẻ cắp từng cuộn dây thừng bện bằng vỏ cây dâu, lại có cả những bó cói mộc to bản dùng để lợp mái rạp.

Lương toan đứng dậy chắp tay chào thì ông trùm bến đã vội khoát tay, đặt phịch hai cây luồng xuống bãi cỏ may, thở hắt ra một hơi sảng khoái:

— Chú Lương cứ ngồi yên đấy mà khắc cho trọn nét! Đừng bận tâm đám già này.

Mấy người đàn ông đi sau cũng lần lượt hạ đồ xuống doi cát. Một người chài lưới trạc tuổi Lương, da ngăm đen bóng, bước lại gần phiến đ/á xanh, cúi đầu nhìn từng nét chữ khắc sâu vào mặt đ/á. Anh ta thở dài, giọng trầm xuống:

— Hai mươi năm qua, dân xóm chài chúng tôi cứ nghĩ do con nước dữ, do m/a da bắt người mà không dám buông lưới ban đêm. Nay sự tình sáng tỏ, mới biết người sống tạo nghiệp chứ sông nước nào có lòng hại ai. Chú Lương gánh thay cả phần làng nước, chúng tôi chẳng có gì, chỉ có ít tre luồng cùng mấy tấm cói mộc đem ra dựng rạp, chuẩn bị cho đàn tràng giải oan ngày mai.

Ông trùm bến bước tới mép nước, kính cẩn vục một vốc nước sông rửa mặt, đoạn quay lại nhìn về phía gò Đống Sậy cách bến đò chừng hai trăm bước chân — nơi nấm mồ đất đỏ của nàng Liên vừa được dân làng đắp cao hôm qua:

— Dựng rạp cầu siêu cho người khuất mặt là việc chung của cả làng Đông Cổ, đâu phải chuyện riêng của họ Đỗ hay họ Trịnh. Cụ tiên chỉ họ Lê sáng nay cũng đã c/ắt cử tuần đinh sang chùa rước sư cụ và chuông khánh về bến. Làng ta chịu ơn cô Thục, chịu ơn chú Lương nhiều lắm.

Nghe những lời mộc mạc ấy, lồng ngựk Đỗ Lương trào dâng một cảm giác nhẹ nhõm khôn tả. Suốt bao năm qua, chàng sống thui thủi một mình nơi chòi bến, người trong làng nhìn chàng bằng ánh mắt kiêng dè, gh/ê sợ kẻ quanh năm kết bạn với x/ác ch*t trôi sông. Chàng từng ngỡ khi tội lỗi của người cha bị phơi bày giữa đình, dòng họ và dân làng sẽ ruồng rẫy, xua đuổi chàng khỏi bờ cõi bến Lương. Nào ngờ tấm lòng ngay thẳng và việc dám đứng ra gánh chịu nghiệp báo lại đổi lấy sự đồng lòng, bao dung của xóm giềng.

Tiếng búa gõ, tiếng d/ao ph/ạt cành tre nứa vang lên rộn rã khắp bờ sông. Trai tráng trong xóm xắn quần quá gối, lội xuống mép bùn cắm cọc luồng, gióng khung rạp. Mấy bà, mấy chị gánh hàng rong sang sông cũng dừng chân trên bờ đê, người góp nải chuối tiêu chín cuống, kẻ đặt lên hương án tạm vài phong bánh khảo, thẻ hương trầm để phụ cúng dâng đàn tràng.

Lương hít sâu một hơi gió sông trong trẻo, cúi xuống phiến đ/á xanh, đặt mũi đục vào nét gạch cuối cùng của chữ *"Tạ"*.

Bàn tay chàng siết ch/ặt lấy cán sắt, dồn hết sức lực và tâm niệm chân thành vào nhát búa quyết định.

*Coong!*

Một tiếng vang giòn tan như tiếng khánh đồng ngân vang trên mặt sóng. Mảnh đ/á thừa cuối cùng bật tung ra khỏi khe chữ, để lại dòng lạc khoản tạ tội sắc nét, sâu hoắm vào lòng đ/á xanh ngắt.

Gió sông bỗng ngưng bặt.

Ngay dưới chân phiến đ/á, nơi tiếp giáp giữa khối đ/á tảng nghìn cân với lớp cát bồi sâu dưới lòng đất, một tiếng *ọc ọc* khẽ vang lên. Từ trong khe nứt tự nhiên của mạch đất bến đò, một dòng nước ngầm bắt đầu rỉ ra. Dòng nước ấy không sủi bọt ngầu đỏ, không mang theo mùi bùn non tanh rưởi hay mùi hôi thối rười rượi của những x/ác trôi mục ruỗng năm nào, mà trong vắt như mắt mèo, sủi tăm li ti rồi cuộn tròn ôm lấy chân bia đ/á chuộc tội.

Một mùi hương phù sa ấm áp, thanh khiết lạ lùng bốc lên từ dòng nước mát lành, hòa lẫn vào khói nhang trầm Thục vừa thắp trên bờ, lan tỏa khắp khúc sông Lương đang rạng rỡ dưới ánh nắng mai.

Danh sách chương

5 chương
21/10/2026 14:12
0
21/10/2026 14:12
0
21/10/2026 14:12
0
21/10/2026 14:12
0
21/10/2026 14:12
0

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Bình luận Facebook

Đăng nhập
Tài khoản của bạn bị hạn chế bình luận
Hủy
Xem thêm bình luận
Bình luận
Báo chương xấu