Thể loại
Đóng
123
@456
Đăng xuất
Ngày chuyến lương thực mùa thu đầu tiên khởi hành, trời còn chưa sáng, bến tàu đã đầy tiếng người.
Bốn chiếc tàu của nhà cùng hai chiếc tàu thuê, đi theo bản đồ mới chia làm hai ngả. Minh Anh ở lại bến quản lý việc bốc dỡ, tôi theo tàu "Bình Xuyên" đi đoạn trước, vì đoạn cải tuyến ở vịnh Lau Sậy tôi phải tận mắt nhìn mới yên tâm.
Hai con dấu của tàu lần đầu tiên cùng đóng trên một tờ lệnh hàng.
Tộc họ không có ai đến tiễn.
Tôi đứng ở mũi tàu, nhìn bến tàu ngày càng xa dần, bỗng nhiên nhớ đến mẹ, người ngày trước vẫn luôn đứng đó. Bà không bao giờ vẫy tay, chỉ lặng lẽ nhìn tàu rời bến. Khi đó tôi thấy bà lạnh lùng, giờ mới biết, người tiễn mười hai con tàu đi có lẽ chẳng còn dư bàn tay nào để vẫy nữa.
Nước ở vịnh Lau Sậy lại rút thêm một chút so với lúc chạy thử.
Tôi ra hiệu cho lái tàu sớm chuyển hướng về phía bắc, bác Thích ở tàu sau đá/nh cờ hiệu. Sáu con tàu nối đuôi nhau vượt qua chỗ hẹp nhất, bụng tàu và bãi ngầm chỉ cách nhau hơn một thước.
Khi qua khỏi, lão Chu cầm lái thở phào một hơi: "Cô hai, đường này đi được."
Tôi không cười nổi, chỉ thấy đầu gối mềm nhũn.
Đó là lần đầu tiên tôi thực sự chịu trách nhiệm cho cả đội tàu, thay vì chỉ ở trên bờ tẩy xóa những lỗi sai rồi vẽ lại.
Đến cửa đ/á ở hạ nguồn, đội kia cũng hội quân đúng hẹn. Tôi mở gói giấy nhỏ Minh Anh nhét cho mình, bên trong là bánh khô, kèm theo một câu ngắn đến mức không giống tính cách của chị: Đừng chỉ lo nhìn nước, nhớ ăn.
Tôi đọc hai lần, rồi gấp tờ giấy vào trong tay áo.
Chiều tối khi về cảng, người ở bến tàu reo hò trước. Minh Anh đứng ở phía trước nhất, không đón lấy, chỉ đợi tôi bước vững lên cầu tàu mới hỏi: "Vịnh Lau Sậy?"
"Đi được. Rút thêm nửa thước nữa thì dừng."
Chị gật đầu, lập tức đi sửa lại tải trọng bốc dỡ cho đợt sau.
Chúng tôi thậm chí không nói câu "vất vả rồi".
Nhưng tôi biết có những thứ đã thay đổi.
Đêm đó, Ôn Kiểu Hòa thanh toán bạc cho đợt đầu, còn tình nguyện giảm ba phần hàng cho đợt hai, đổi lấy việc chúng tôi không phải mạo hiểm chạy nước. Điều này nghĩa là thu nhập của bến thuyền sẽ giảm, nhưng tiền công của thuyền công vẫn phát đủ.
Ngay khi mọi người tưởng rằng cửa ải khó khăn nhất đã qua, Giang Mậu Đình gửi đến văn thư phân chia tàu chính thức.
Sáu con tàu, hai ngày sau bị thu hồi.
Trong danh sách bao gồm cả "Trường Triều" và "Thuận Trạch", đúng hai con tàu thích hợp nhất cho đoạn nước cạn đợt sau.
Minh Anh xem xong, lần đầu tiên ném vỡ chén trước mặt tôi.
"Ông ta cố tình chọn đấy."
Tôi cũng nhìn ra. Không phải rút ngẫu nhiên sáu chiếc, mà là lấy đi kiểu tàu giúp chúng tôi duy trì vận tải mùa thu tốt nhất.
"Có đổi được không?"
"Trong danh mục tài sản của tộc ghi rõ số hiệu tàu. Ông ta không đổi."
Tôi hỏi: "Nếu không lấy sáu chiếc đó, đợt hai chúng ta đi được bao nhiêu?"
Chị tính toán hồi lâu. "Năm phần."
Trong phòng lặng đi, chỉ còn tiếng bàn tính.
Tôi bỗng nói: "Vậy thì đi năm phần."
Chị ngước lên: "Số hàng còn lại?"
"Trả lại."
"Sẽ phải đền tiền vi phạm hợp đồng."
"Đền nổi không?"
"Lấy hết quỹ dự phòng sửa tàu năm nay ra, miễn cưỡng thì được."
Điều này đồng nghĩa với việc chúng tôi chủ động thừa nhận bến thuyền thu hẹp, lại còn phải chịu một khoản lỗ.
Minh Anh nhắm mắt lại. "Nếu mẹ còn, sẽ không để sáu con tàu cứ thế mà đi."
"Mẹ không còn nữa rồi."
Chị nhìn chằm chằm vào tôi.
Tôi biết câu này rất nặng nề, nhưng vẫn nói hết: "Chúng ta không thể mỗi bước đi đều đoán xem bà sẽ làm thế nào. Bà để lại con dấu cho chúng ta, chứ không phải để lại chính bà cho chúng ta."
Minh Anh im lặng hồi lâu.
Sau đó, chị cúi người nhặt từng mảnh chén vỡ lên.
"Được," chị nói, "Trả lại năm phần."
Đêm đó Lương Ký Xuyên đi cùng tôi đến cuối bến tàu.
"Xót không?" anh hỏi.
"Xót."
"Hối h/ận không?"
Tôi nhìn bóng của mười hai con tàu. Hai ngày nữa thôi, chỉ còn sáu chiếc thuộc về chúng tôi.
"Không hối h/ận."
Anh khẽ "ừ" một tiếng.
Tôi hỏi: "Sao anh không khen tôi?"
"Em bây giờ trông không giống người cần được khen."
Tôi quay đầu lườm anh, anh mới cười.
Tôi cũng cười theo.
Nhưng sáng hôm sau, bác Thích mang đến một cuốn sổ tay của mẹ tìm thấy trong khe hở của khoang tàu cũ.
Một trang trong đó ghi lại con số bồi thường thực sự của vụ t/ai n/ạn Bạch Sa Tích ba năm trước.
Khi lệnh hồi đáp đợt đầu được gửi đến, mấy thuyền công trẻ vây quanh tôi, hỏi đường lệch về phía bắc nửa trượng đó tính toán thế nào. Tôi không cất bản đồ đi, mà để họ tự dùng thước tre đo. Lão Chu còn chỉ ra khoảng cách quay đầu tôi để ở cửa đ/á quá rộng, nếu nước mùa đông thấp hơn nữa sẽ đụng bờ tây. Tôi ghi chép lại ngay tại chỗ. Minh Anh đứng bên cạnh không nói giúp tôi, chỉ bồi thêm một câu: "Ai thấy vấn đề thì ghi lại trước, đừng đợi đến lúc ra tàu mới nói."
Khi nghe câu đó, tôi đột nhiên nhớ đến bản thân mình ba năm trước. Nếu lúc đó có người hỏi tôi một câu về đợt triều rút đêm trước khi giao bản đồ, có lẽ tôi đã không phạm sai lầm đó. Nhưng tôi không thể vì thế mà đẩy trách nhiệm cho người không nhắc nhở mình. Điều có thể làm bây giờ, chỉ là khiến cho người vẽ sai bản đồ tiếp theo dễ được nhìn thấy lỗi sai hơn, dễ sửa đổi hơn.
Buổi tối chúng tôi kiểm kê các dụng cụ tàu sắp bị thu hồi, Minh Anh giữ lại bản sao ghi chép sửa chữa nhiều năm của từng con tàu. Chị nói: "Tàu có thể lấy đi, nhưng kinh nghiệm thì đừng đưa cho họ." Lần đầu tiên tôi cảm thấy, việc chị ở lại nhiều năm không phải là giữ một vị trí, mà là ghi nhớ quá nhiều chi tiết mà tôi chưa từng thấy cho bến thuyền này.
Thứ Giang Mậu Đình lấy đi từ bến thuyền, ít hơn hẳn một nửa so với những gì ông ta tưởng.
Chương 12
Chương 10
Chương 11
Chương 11
Chương 11
Chương 11
Chương 12
Chương 10
Bình luận
Bình luận Facebook