Thể loại
Đóng
123
@456
Đăng xuất
Cô bắt đầu đến siêu thị m/ua đồ giảm giá sắp hết hạn. Đôi khi ổ bánh mì cứng như đ/á, cô ngâm nước nấu thành cháo.
Cô không nói với mẹ. Mỗi lần gọi video, cô đều cười nói mình sống rất tốt, ăn ngon, ở đẹp. Mẹ nhìn căn phòng qua màn hình, bảo "Sao nhỏ thế", cô liền đáp: "Nhà ở Milan đều thế này cả, gọi là ấm cúng".
Cúp máy xong, cô ngồi nhìn chằm chằm vào tô mì ống rất lâu.
Khó nhất là bộ tác phẩm.
Cô lục lại những bản thảo mang từ Trung Quốc sang, xem từng trang một. Những bản thiết kế vẽ ba năm trước giờ đây đều mang bóng dáng Lục Đình Thâm - tông lạnh, đường nét đơn giản, cảm giác không gian xa cách.
Đó không phải phong cách của cô.
Phong cách của cô là gì? Cô sắp quên mất rồi.
Hồi đại học, giáo sư từng nói thiết kế của cô có "chất phương Đông ấm áp", khéo dùng chất liệu gỗ, ánh sáng dịu, kỹ thuật khoảng trống để không gian có hơi thở.
Nhưng ba năm làm bản sao đã khiến cô xóa nhòa phong cách riêng.
Cô thử vẽ thứ mới, nhưng ngòi bút chạm xuống giấy vẫn chỉ ra những đường thẳng lạnh lẽo.
Cô bắt đầu lo lắng.
Mỗi đêm vẽ đến hai ba giờ sáng, xong lại x/é. Vài cuốn sketchbook dùng hết mà không có trang nào ưng ý.
Một hôm, cô ngồi vẽ cả buổi chiều trong lớp, cậu bạn người Brazil liếc nhìn rồi nói bằng thứ tiếng Anh bồi: "Tranh của cậu... lạnh quá".
Cô gi/ật mình.
"Như kiểu trong phòng không cửa sổ ấy." Cậu ta nhún vai. "Không có ánh sáng."
Cô không cãi, vì đó là sự thật.
Tối đó, cô ngồi một mình giữa đống bản thảo vứt đầy sàn, bỗng thấy tuyệt vọng.
Cô không còn là Khương Vãn Ninh. Cũng chẳng phải bản sao của Tô Uyển Thanh. Cô chẳng là ai cả.
Cô chẳng có gì cả.
Không tiền, không bạn, không tài năng, không tương lai.
Cô gục xuống bàn, mặt ch/ôn vào cánh tay. Không khóc, chỉ thấy mệt mỏi vô cùng.
Cái mệt ấy khác ba năm trước. Ba năm trước bị nh/ốt trong lồng, giờ cửa lồng mở toang, cô lại không biết bay về đâu.
Cô ngẩng đầu, nhìn chiếc đèn bàn.
Ánh sáng vàng ấm, viền đèn có vết nứt được dán băng dính.
Đây là chiếc đèn đại học. Hồi đó cô nghèo, không m/ua nổi đèn tốt, chiếc này m/ua ở chợ đêm trước cổng trường với giá hai chục tệ. Dùng hai năm, rơi một lần, chụp đèn vỡ, cô tiếc không nỡ vứt, dán lại rồi dùng tiếp.
Hồi đó cũng nghèo, nhưng hồi đó vui.
Vì hồi đó, cô là Khương Vãn Ninh.
Cô đưa tay sờ vết băng dính trên chụp đèn, chợt nghĩ đến điều gì.
Cô mang chiếc đèn này từ Bắc Kinh sang Milan, vượt tám ngàn cây số, vì nó có ích ư? Không. Nó cũ kỹ, x/ấu xí, chụp đèn còn nứt.
Cô mang theo vì nó là của cô.
Trong những ngày nghèo khó, khổ cực, không được coi là người nhất, ngọn đèn này vẫn luôn sáng.
Cô nhìn ngọn đèn, từ từ mỉm cười.
Rồi cô cầm bút, lật trang sketchbook mới.
Lần này, cô không vẽ những đường thẳng lạnh lẽo nữa. Cô vẽ một căn phòng nhỏ xíu, chỉ mười hai mét vuông, có một ô cửa sổ, ngoài cửa là bầu trời xám xịt. Trong phòng có một chiếc giường, cái bàn và chiếc đèn bàn. Trên chụp đèn có vết nứt được dán băng dính.
Ánh sáng từ chiếc đèn tỏa ra, màu vàng ấm áp, lấp đầy căn phòng.
Căn phòng này nhỏ bé, cũ kỹ, đơn sơ.
Nhưng nó là của cô.
Vẽ xong, cô nhìn bức tranh, bỗng thấy nghẹn mũi.
Không phải buồn, mà là thảnh thơi.
Cuối cùng cô đã vẽ được thứ thuộc về chính mình.
Tháng mười hai ở Milan, ngày càng ngắn, trời càng lạnh.
Chiếc áo khoác lông vũ của Khương Vãn Ninh m/ua từ hồi đại học, đã mặc bốn năm, cổ tay bạc màu, khóa kéo hỏng, phải dùng ghim gài lại. Mùa đông Milan dù không lạnh bằng Bắc Kinh nhưng ẩm thấp, cái lạnh thấm vào tận xươ/ng.
Sáng nào cô cũng dậy lúc sáu giờ, đi tàu điện bốn mươi phút đến trường ngoại ngữ, chiều đến thư viện tự học, tối về nhà vẽ.
Cuối tuần, cô đến chợ đồ cũ Naviglio Grande.
Đó là chợ trời lớn nhất Milan, mở cửa thứ bảy hàng tuần, từ đồ cổ đến sách cũ quần áo cũ, đủ thứ. Cô không đến để m/ua - cô không có tiền m/ua - cô đến để ngắm.
Ngắm vân gỗ trên đồ nội thất cũ, kiểu dáng đèn cổ, chất liệu vải cũ. Cô mang theo sketchbook, thấy đồ vật thú vị lại vẽ, có khi ngồi xổm cả buổi chiều.
Trong chợ có một sạp chuyên b/án dụng cụ mộc cũ. Chủ sạp là ông lão tóc hoa râm, g/ầy gò, ít nói, luôn ngồi xem báo trên ghế xếp, chẳng mời chào.
Lần đầu Khương Vãn Ninh chú ý đến ông là vì mấy món đồ nghề.
Những chiếc bào, c/ưa, đục, thước mực đều được chăm chút sạch sẽ, lưỡi d/ao mài bóng, tay cầm gỗ lên nước bóng loáng. Không phải hàng b/án, mà giống bộ sưu tập hơn.
Cô ngồi xổm trước sạp, nhìn chằm chằm vào mấy món đồ rất lâu.
Ông lão ngước mắt từ sau tờ báo, liếc cô một cái, lại cúi xuống đọc tiếp.
Lần thứ hai đến, cô lại ngồi xổm trước sạp ngắm nghía. Lần này cô mang theo sketchbook, bắt đầu vẽ chi tiết những món đồ - đường cong của chiếc bào, lưỡi đục, vân gỗ trên tay cầm.
Ông lão lại liếc cô. Lần này không cúi xuống nữa.
Lần thứ ba, đang vẽ chiếc bào mộng gỗ kiểu cũ, cô bỗng nghe giọng khàn khàn: "Nét vẽ của cô chuẩn đấy".
Cô ngẩng đầu, ông lão đang nhìn cô, tay cầm ly cà phê espresso.
"Học thiết kế?" Ông hỏi bằng tiếng Anh đầy giọng địa phương.
"Vâng, thiết kế nội thất." Cô đáp.
Ông lão gật đầu, không nói thêm gì.
Từ hôm đó, mỗi lần đến chợ đồ cũ, cô đều quanh quẩn trước sạp của ông. Khi thì vẽ, khi giúp ông sắp xếp đồ nghề. Thỉnh thoảng ông chỉ cho cô vài điều về vân gỗ, kết cấu mộng, kỹ thuật đồ gỗ truyền thống Ý.
Chương 5
Chương 6
Chương 12
Chương 8
Chương 6
Chương 9
Chương 13
Bình luận
Bình luận Facebook