Thể loại
Đóng
123
@456
Đăng xuất
Album ảnh, sổ tay, lịch, cùng những thứ khác trong chiếc rương gỗ đàn hương - một xấp biên lai, vài bức thư chưa gửi, chiếc hộp sắt đựng đồ lặt vặt.
Tôi mở chiếc hộp sắt.
Bên trong là những kỷ vật cũ: chiếc khăn tay phai màu, huy hiệu rỉ sét, mấy tấm vé xe, chìa khóa, vài chiếc cúc áo.
Còn có một mảnh giấy úa vàng, buộc bằng dây chun vào xấp tiền nhân dân tệ - khoảng hai ngàn, toàn tờ năm mươi và một trăm đời cũ.
Mảnh giấy viết:
"Tiểu Vũ, mẹ để phần con. Đói thì về nhé."
Nét chữ còn rất mới.
Có thể viết năm ngoái, cũng có thể năm nay.
Tôi nhặt mấy bức thư chưa gửi, rút ra một phong. Giấy thư đã ngả vàng, mép hơi sờn.
"Tiểu Vũ:
Mẹ lại mơ thấy con rồi. Con mặc chiếc áo kẻ ô xanh ngày nhỏ, đứng ở cửa gọi mẹ. Mẹ định xoa đầu con, chạm vào thì tỉnh giấc.
Mẹ biết con bận ngoài kia, ki/ếm tiền khó nhọc. Mẹ không trách con không về. Chỉ muốn hỏi con: Có lạnh không? Ăn uống thế nào? Có ai chăm sóc không?
Sinh nhật năm nay, mẹ vẫn làm sườn xào chua ngọt cho con. Để trên bàn đấy. Nếu có lúc đi ngang qua, nhớ về ăn một miếng nhé.
Mẹ đợi con.
Ngày 2 tháng 9 năm 1999"
Bức thứ hai:
"Tiểu Vũ:
Thanh minh năm nay mẹ lại đi gọi con. Thầy bói nói, chỉ cần gọi đủ nhiều, con sẽ nghe thấy, sẽ nhớ đường về.
Mẹ biết con chưa ch*t. Chỉ là lạc mất h/ồn, quên mất nhà này thôi.
Mẹ sẽ gọi mãi, gọi đến khi con quay về.
Năm 2003"
Bức thứ ba:
"Tiểu Vũ:
Hai mươi năm rồi.
Mẹ già rồi, chân tay yếu quá, quỳ không nổi nữa.
Nhưng mẹ vẫn còn gọi được.
Chỉ cần mẹ còn sống, sẽ không ngừng gọi tên con.
Con nghe thấy mà, phải không?
Năm 2017"
Tất cả thư đều không địa chỉ, không dấu hiệu đã gửi.
Ngay từ đầu, chúng không được viết để gửi đi.
Chúng chỉ là cách an ủi của một lão bà - tự nhủ với mình rằng con trai vẫn ở đâu đó, vẫn có thể nhận được những lời này.
Tôi đặt thư lại vào chỗ cũ, ngón tay chạm vào phong bì, cảm nhận hơi lạnh thấu xươ/ng.
Tôi chợt nhớ đến những đồ trấn yểm trong phòng khách - tấm gương treo ngược, cây kéo mở rộng, dây đỏ gỗ đào, tro bùa ch/áy dở.
Tôi đứng dậy, bước ra phòng ngủ, quan sát kỹ căn phòng lần nữa.
Những đồ vật trấn yểm ấy dưới ánh sáng mờ ảo trông càng thêm gai mắt.
Gương treo ngược - để h/ồn m/a không thấy lối ra.
Kéo mở rộng - c/ắt đ/ứt dây duyên.
Dây đỏ gỗ đào - trấn áp niềm đ/au không ng/uôi.
Bùa ch/áy thành tro - xua tan tiếng gọi không ngừng.
Đây không phải cảnh con hiếu chạy lễ cho mẹ sau khi bà mất.
Đây là kẻ trốn chạy hai mươi bảy năm, trong lần trở về cuối cùng, đã dùng mọi cách -
để tiếng gọi của mẹ mãi mãi không đuổi kịp hắn.
Tôi cần x/á/c minh.
Tôi nhanh chóng rời phòng, xuống tầng, tìm thấy bà lão dắt chó ở cổng khu tập thể. Bà vẫn đứng dưới đó, tán gẫu cùng mấy cụ già khác.
Thấy tôi, bà lập tức bước tới: "Xong việc rồi à?"
"Chưa, cháu muốn hỏi bà vài chuyện," tôi cố giữ giọng điềm tĩnh, "Cụ già ở phòng 502, con trai cụ... còn sống không ạ?"
Mấy cụ già nhìn nhau.
"Sống chứ," một ông lão lên tiếng, "Nghe nói ở phương Nam, làm ăn phát đạt lắm."
"Lâu rồi cháu ấy không về?"
"Ôi, cả chục hai mươi năm rồi," bà lão dắt chó thở dài, "Bố nó mất cũng không về. Một mình bà Triệu Quế Phân lo hậu sự."
"Bố cháu ấy mất năm nào ạ?"
"Năm 1997," bà nghĩ ngợi, "Đúng rồi, năm 97, năm lũ lụt ấy, ông Triệu mất đúng dịp đó."
Năm 1997.
Năm cuốn sổ tay bắt đầu ghi chép.
"Về sau thì sao ạ?" tôi gặng hỏi, "Con trai cụ không về thăm nữa à?"
"Không, một lần cũng không," bà lão lắc đầu, "Bà Triệu ngày ngày mong ngóng, cứ đến tết đến nhất lại đứng ngoài cửa đợi. Đêm đêm đôi khi chúng tôi còn nghe tiếng bà gọi... gọi tên con trai. Nghe mà... rợn cả người."
"Bà ấy gọi gì ạ?"
Bà lão ngập ngừng, hạ giọng bắt chước:
"Tiểu Vũ... về ăn cơm..."
Gai ốc nổi đầy sau lưng tôi.
"Bà ấy gọi như thế, gọi suốt bao năm trời," ông lão nói thêm, "Ban đầu chúng tôi còn khuyên giải, sau thành quen. Tội bà cụ lắm, con không về, bà không chịu nhận phận, nên... hóa đi/ên."
"Thế sau khi cụ mất," tôi hít sâu, "có ai đến không? Con trai cụ?"
Mấy cụ già liếc nhìn nhau.
"Có," bà lão nói, "Mới mấy hôm trước khi báo cảnh sát. Tối hôm đấy tôi xuống đổ rác, thấy một người đàn ông từ cổng số 5 đi ra, tầm bốn năm mươi tuổi, bước rất vội."
"Bà chắc là từ phòng 502 ạ?"
"Chắc chắn. Lúc đấy tôi ngửi thấy mùi, cái mùi ấy..." Bà không nói hết câu, "Hôm sau tôi báo cảnh sát ngay."
"Người đó," tôi hỏi tiếp, "bà có nhìn rõ mặt không ạ?"
"Không thấy rõ mặt, nhưng..." Bà nhíu mày nhớ lại, "Đi hơi khom lưng, tóc cũng hói nhiều. Trông tiều tụy lắm."
Cậu thiếu niên cười tươi trong ảnh, sau hai mươi tám năm, hẳn cũng thành dáng vẻ ấy.
Hắn đã về.
Sau khi mẹ mất, sau khi x/á/c ch*t bắt đầu th/ối r/ữa, mùi hôi lan tỏa, hắn cuối cùng cũng trở về.
Hắn đứng trước ngưỡng cửa căn nhà hai mươi tám năm chưa bước vào.
Hắn đẩy cửa, hít phải thứ mùi không thể chịu nổi.
Hắn thấy x/á/c ch*t nằm trên giường.
Hắn thấy những bức ảnh trên tường đóng khung tuổi hai mươi.
Hắn thấy cuốn sổ tay chi chít chữ "Tiểu Vũ".
Hắn thấy đĩa sườn xào chua ngọt đã lên meo trên bàn.
Hắn thấy đôi dép vẫn để sẵn nơi cửa.
Rồi hắn làm gì?
Báo cảnh sát? Khóc lóc? Quỳ gối sám hối?
Không phải.
Hắn lấy gương, kéo, gỗ đào, bùa chú, bố trí khắp phòng theo mọi phương pháp hắn tra được.
Rồi bỏ đi.
Không thu dọn x/á/c ch*t, không báo cảnh sát.
Hắn chỉ bày bùa trấn, rồi chuồn mất.
Như cách hắn đã làm suốt hai mươi tám năm qua.
Trốn chạy.
Tôi trở lại phòng 502.
Nhiệt độ trong phòng dường như lại giảm thêm vài độ.
Tôi đứng trước những đồ trấn yểm, lần này tôi đã hiểu ý nghĩa thực sự của chúng.
Chương 6
Chương 6
Chương 10
Chương 6
Chương 6
Chương 7
Chương 10
Chương 6
Bình luận
Bình luận Facebook