Lịch sử trực tiếp, mở màn với cú đánh chí mạng

Tô Thức lạc quan, rộng rãi thể hiện trong mọi mặt của cuộc sống. Một ngày nọ, hắn cùng bạn bè dạo chơi bên ngoài, gặp phải trời mưa tầm tã, không mang theo đồ che mưa, đồng bạn đều chật vật, chỉ có Tô Thức là không để tâm.

Hắn viết: "Chưa nghe tiếng mưa xuyên rừng trúc, ngại gì ngâm nga bước chậm thảnh thơi. Gậy trúc giày cỏ nhẹ hơn ngựa, ai sợ? Một đời bụi trần xem nhẹ tênh." Đối mặt với mưa gió chính trị, hắn tự nhủ không nên để ngoại cảnh ồn ào và khó khăn quấy nhiễu, phải kiên định tín niệm và bước chân, vững vàng tiến lên.

Sau cơn mưa, ắt sẽ thấy cầu vồng. Đến lúc ngoảnh lại những khốn cảnh đã qua, cũng chỉ là một trận cười lớn: "Ngoảnh đầu nhìn lại chốn tiêu điều, trở về thôi, chẳng mưa chẳng nắng."

Phạm Trọng Yêm than: "Dẫu gặp bất công, vẫn cứ lạc quan mà đối diện nhân sinh!"

Vương An Thạch thở dài: "Ta không bằng được..."

Tâm tính như vậy, thật khó có được.

Tô Thức khai sáng phong cách từ phóng khoáng, nhưng từ uyển ước hắn cũng viết rất hay: "Mười năm sinh tử cách biệt, chẳng nhớ, tự khó quên. Ngàn dặm mồ hoang, biết cùng ai than nỗi đoạn trường..."

"Nhìn nhau chẳng nói, lệ tuôn ngàn hàng. Chốn đoạn trường năm năm, trăng sáng đêm, gò thông ngắn..."

Tô Thức ngâm nga những vần từ mình từng viết, không khỏi nhớ đến người vợ bạc mệnh, tiếc rằng duyên vợ chồng chỉ có thể tìm nhau trong mộng.

**Khu bình luận**

"Hoa rụng tàn phai, liễu xanh mơn mởn, én chao liệng, nước biếc quanh nhà. Tơ liễu lay động, chân trời đâu thiếu cỏ thơm! Trong tường đu văng, ngoài tường khách qua. Tiếng cười dần khuất, tình si để kẻ vô tình cười chê."

"Trăng khuyết treo đầu cành, bóng lẻ c/ắt ngang tĩnh mịch. Gặp gỡ người cô đ/ộc, bóng hồng mờ ảo. Gi/ật mình quay đầu, h/ận chẳng ai hay. Đậu cành khô chẳng chịu yên, bãi cát lạnh lẽo."

...

Lý Bạch: "Nếu không có đề tên, ta chẳng nhận ra đây là người viết 'Trường giang cuồn cuộn chảy về đông, sóng vùi dập anh hùng' Tô Thức."

Đỗ Phủ: "Thì ra khúc từ cũng có thể viết tuyệt diệu đến vậy, hai vị huynh trưởng có muốn thử sức?"

Lý Bạch mắt sáng lên: "Hay!"

Cao Thích: "Thú vị, cho ta tham gia!"

...

Tô Thức can đảm thẳng thắn phê bình chính sự đương thời, đưa ra phương án cải cách và kiến nghị. Trong "Sách Biệt" và các bài chính luận khác, Tô Thức trình bày chi tiết tư tưởng chính trị và lược trị quốc của mình: "Tiết kiệm để liêm khiết", Tô Thức cho rằng quốc gia cần tiết kiệm chi tiêu, liêm khiết thu tài, để giải quyết khó khăn tài chính. "Pháp lệnh rõ ràng, thi hành nghiêm mật, để thiên hạ biết phép tắc", ông nhấn mạnh luật pháp phải rõ ràng, cụ thể, thi hành nghiêm minh, coi trọng vai trò của luật pháp trong quản lý quốc gia.

**Khu bình luận**

"Tô Thức không phản đối cải cách, ông phản đối cải cách m/ù quá/ng!"

Vương An Thạch: "Thì ra ngươi cũng muốn dùng pháp gia trị quốc!"

Xem ra Tô Thức mới là người cùng chí hướng với mình!

Năm Nguyên Phong thứ bảy (1084), Tô Thức rời Hoàng Châu, phụng chỉ đến Nhữ Châu nhậm chức. Vì lặn lội đường xa, mệt nhọc, con trai Tô Thức không may qu/a đ/ời. Đường đến Nhữ Châu xa xôi, lộ phí lại hết, thêm nỗi đ/au mất con, Tô Thức dâng thư lên triều đình, xin được đến Thường Châu cư trú trước. Chưa kịp đến Thường Châu, tin dữ từ Biện Kinh truyền đến: Tống Thần Tông băng hà!

Tại Thường Châu, Tô Thức không lo cái ăn cái mặc, lại được hưởng cảnh đẹp, cách xa kinh thành thị phi, có thể sớm tối ở bên gia đình, bạn bè. Tô Thức coi Thường Châu là nơi dưỡng lão.

Nhưng người trị vì thay đổi, triều đình phong vân biến ảo, Cao Thái hậu trọng dụng cựu đảng. Tô Thức bị đảng mới chèn ép, bị triệu hồi kinh thành, nhanh chóng được thăng lên Trung thư xá nhân, Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo, trở thành đại quan tả hữu triều chính!

Nhưng khi Tô Thức thấy cựu đảng ra sức đàn áp người của Vương An Thạch, phế bỏ tân pháp, ông cho rằng những người này và cái gọi là "Vương Đảng" chẳng khác gì nhau, đẩy triều đình đến một thái cực khác, lại dâng sớ can gián.

Ông công kích nghiêm khắc vấn đề mục nát của cựu đảng, kết quả không nằm ngoài dự đoán, ông bị phe bảo thủ phản đối, lại bị vu cáo, h/ãm h/ại.

Đến nước này, Tô Thức không thể dung thân ở đảng mới, cũng không được cựu đảng tha thứ, chỉ có thể tự xin chuyển đi nơi khác.

**Khu bình luận**

"Nhìn ngang thành dãy, nhìn nghiêng thành đỉnh, xa gần cao thấp khác nhau. Chẳng biết mặt thật, chỉ vì thân ở trong núi này."

...

Lý Thương Ẩn nhìn bức họa Tô Thức trên thiên mạc, ánh mắt tha thiết: "Ta hiểu nỗi khổ của ngươi."

Đỗ Mục cười ha ha: "Ngươi hiểu gì chứ, ngươi bị cả hai đảng xa lánh vì chẳng hiểu gì cả, còn Tô Thức là vì nhìn quá rõ, nên không thể dung thân ở cả hai!"

Ngụy Chưng: "Người này là một bậc hiền tài, nếu triều chính thanh minh, ắt sẽ trở thành Tể tướng của một thời thịnh thế!"

Lý Thế Dân: "Huyền Thành đ/á/nh giá ông ta cao vậy sao?"

Ngụy Chưng: "Đảng mới, cựu đảng đều đi đến cực đoan, đẩy Tống triều đến chỗ diệt vo/ng, họ cần người như Tô Thức để ghìm cương!"

Tiếc rằng Tô Thức làm việc quang minh lỗi lạc, lại không đấu lại được những kẻ lòng dạ hẹp hòi.

Năm Nguyên Hữu thứ tư (1089), Tô Thức lần thứ hai đến Hàng Châu làm quan. Lúc đó, Hàng Châu đại hạn, đói kém và dị/ch bệ/nh bùng phát. Tô Thức thi hành nhiều biện pháp c/ứu tế: xin giảm miễn thuế, b/án độ điệp của hòa thượng để lấy lương thực, c/ứu tế dân nghèo. Ông kh/ống ch/ế giá lương thực, mở phố b/án cháo, lập y quán c/ứu tế, c/ứu sống vô số người!

Vì Tây Hồ lâu ngày không được nạo vét, tắc nghẽn hơn phân nửa, "Gió cuốn nền hồ lấp kín, người kinh niên đói khổ", hồ nước dần khô cạn, cỏ dại mọc đầy, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.

Tô Thức tổ chức dân chúng địa phương, huy động hơn hai mươi vạn dân công, nạo vét sông Tiền Đường và Tây Hồ, tu đê đ/ập, khai thông ruộng hoang, khôi phục cảnh quan cũ, xây ba ngọn tháp ở nơi sâu nhất của hồ làm tiêu chí, nay đã trở thành thắng cảnh nổi tiếng: Tam Đàn Ấn Nguyệt!

Ông cho đắp bùn nạo vét được thành một con đê dài từ nam chí bắc Tây Hồ, trên đê có sáu cầu nối liền, để người đi lại. Cảm tạ công lao của Tô Thức, dân chúng địa phương đặt tên con đê này là Tô Đê!

**Khu bình luận**

"Tô Thức cả đời xây rất nhiều đê, đều có tác dụng lớn, nên được gọi là người trị thủy tài ba!"

"Ở Từ Châu có đê chống lũ, đến đời Minh vẫn còn tác dụng phòng lũ."

"Khi bị giáng chức đến Dĩnh Châu, ông cũng nạo vét Tây Hồ, xây đê đ/ập."

"Còn có Tây Hồ ở Huệ Châu, lúc đó Tô Thức đã hơn sáu mươi tuổi, lặn lội ngàn dặm đến Huệ Châu nhậm chức, được dân chúng địa phương hoan nghênh. Tô Thức lấy vàng ban thưởng của hoàng đế ra, quyên giúp nạo vét Tây Hồ, tu một con đê dài."

...

Ngày nay, Tây Hồ ở Hàng Châu đã trở thành khu du lịch cấp 5A quốc gia, mỗi ngày có hàng ngàn hàng vạn du khách đến Tây Hồ du ngoạn, Tô Đê Xuân Hiểu đã trở thành một trong thập đại cảnh đẹp của Tây Hồ.

Màn trời hiện ra Tây Hồ hiện đại, vô số du khách vây quanh bờ hồ, người người nhộn nhịp, chen vai thích cánh, cùng hoa sen, du thuyền, núi xanh hòa vào nhau thành một bức tranh tươi đẹp...

Tô Thức: "Khi xưa Tây Hồ bùn lầy ngập ngụa, rong rêu um tùm, nào ngờ giờ đã thành cảnh đẹp như tranh!"

Văn nhân cổ đại nhất thời hứng khởi, gửi thơ văn lên khu bình luận, hay nhất vẫn là thơ của Tô Thức: "Sóng nước lung linh trời vừa đẹp, núi non mờ ảo mưa cũng hay. Muốn đem Tây Hồ so Tây Thi, đậm đà hay thanh tú đều hợp."

Nhiều người thấy được một con đường khác ngoài xuất tướng nhập tướng, đến nơi làm quan, chỉ cần làm nên công trạng, sẽ được dân chúng nhớ đến hàng trăm năm.

Nếu như Bạch Cư Dị và Tô Thức để lại chút gì đó, còn có thể được dựng bia chép sử!

Nho gia theo đuổi "Lập công, lập ngôn, lập đức", Tô Thức đã làm được!

Tô Thức sống ở Hàng Châu rất thoải mái, nhưng vẫn không tránh khỏi sóng gió triều đình. Từ năm Nguyên Hữu thứ sáu đến năm Nguyên Hữu thứ tám, Tô Thức hai lần bị triệu hồi kinh, đều vì không hợp chính kiến với người cầm quyền, tự xin đảm nhiệm quan địa phương.

Năm Nguyên Hữu thứ tám (1903), Cao Thái hậu qu/a đ/ời, Tống Triết Tông khởi động lại tân chính, Tô Thức bị giáng chức đến Huệ Châu (Quảng Đông), nơi kinh tế kém xa Giang Hoài, coi như bị lưu đày.

Cuộc sống khổ cực không thể đ/á/nh gục Tô Thức, ông tìm thấy niềm vui mới ở Quảng Đông: vải. "Mỗi ngày ăn vải ba trăm quả, chẳng ngại làm người Lĩnh Nam!"

Năm 1097, Tô Thức sáu mươi hai tuổi lại bị giáng chức đến Đam Châu, đảo Hải Nam xa xôi. Ở Tống triều, đày đến Hải Nam chỉ nhẹ hơn tội tru di.

Tô Thức coi Hải Nam là quê hương thứ hai: "Ta vốn người Đam Nhĩ, ký sinh đất Thục." Ông đã chuẩn bị tâm lý ch/ôn xươ/ng nơi này, chỉ tiếc không thể gặp lại em trai lần cuối.

Tô Thức lập học đường ở Hải Nam, cải tạo phong cách học tập, nên nhiều người không ngại đường xa đến Đam Châu, cầu học Tô Thức. Về sau, không lâu sau khi Tô Thức về bắc, nơi đây có vị cử nhân đầu tiên: Khương Đường Tá. Tô Thức đặc biệt đề thơ: "Biển cả chưa từng ngăn mạch đất, Châu Nhai từ nay mới có người."

Mọi người coi Tô Thức là người khai phá văn hóa Đam Châu, người gieo hạt, dành cho ông sự sùng kính sâu sắc. Ở Đam Châu lưu truyền những địa danh như thôn Đông Pha, giếng Đông Pha, ruộng Đông Pha, đường Đông Pha, cầu Đông Pha, nón Đông Pha, đến cả ngôn ngữ địa phương cũng gọi là "Lời Đông Pha", đều thể hiện sự tưởng nhớ sâu sắc của mọi người đối với Tô Thức.

Hốc mắt Tô Thức đỏ hoe, tình cảm này quá nặng nề, ông tự thấy hổ thẹn khi đón nhận: "Nếu có cơ hội, ta vẫn muốn đến Hải Nam, làm chút gì đó cho dân bản xứ."

Tô Triệt dở khóc dở cười: "Lần này sợ là không đến lượt huynh trưởng."

Đúng vậy, chỉ cần quan địa phương Hải Nam không ngốc, sẽ dựa theo lời nhắc của màn trời, khai mở phong cách học tập ngay tại chỗ, không đợi Tô Thức bị giáng chức...

Sau khi Tống Huy Tông lên ngôi, triều đình đại xá, Tô Thức được khôi phục chức quan cũ: Triều Phụng lang.

Năm 1101, Tô Thức qu/a đ/ời ở Thường Châu, thọ sáu mươi sáu tuổi.

Tô Thức đạt đến đỉnh cao nghệ thuật ở cả ba lĩnh vực văn, thơ, từ, có thể coi là đại diện cho thành tựu văn học cao nhất của Đại Tống. Ông cũng có thành tích nổi bật trong thư pháp, hội họa, y dược, nấu nướng, thủy lợi, có thể gọi là chiến sĩ lục giác toàn năng!

Tô Thức là lãnh tụ văn đàn đương thời, kế thừa tinh thần của Âu Dương Tu, coi trọng bồi dưỡng nhân tài. Nhiều văn nhân như chúng tinh củng nguyệt vây quanh ông, "Tô Môn tứ học sĩ": Hoàng Đình Kiên, Trương Lỗi, Triều Bổ Chi, Tần Quan, còn có Lý Cách đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của Tô Thức.

Tác phẩm của Tô Thức nổi tiếng đương thời, được hoan nghênh ở Liêu quốc, Tây Hạ. Cuối thời Bắc Tống, triều đình từng cấm lưu hành tác phẩm của Tô Thức, nhưng càng cấm càng lan rộng. Đến Nam Tống, tác phẩm của Tô Thức lan truyền khắp nơi, các phiên bản nối tiếp nhau ra đời.

Thái độ sống ung dung tự tại, không sợ sủng nhục của Tô Thức trở thành tấm gương cho các văn nhân đời sau, được hậu thế yêu mến. Trong tâm trí các đại văn nhân đời sau, Tô Thức là một thiên tài văn học, một bậc thầy!

**Khu bình luận**

"Đời Đường có Lý Bạch, Đỗ Phủ song tử tinh, đời Tống có Tô Thức có một không hai cổ kim!"

...

Danh sách chương

5 chương
28/11/2025 12:59
0
28/11/2025 12:58
0
28/11/2025 12:58
0
28/11/2025 12:57
0
28/11/2025 12:57
0

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Bình luận Facebook

Đăng nhập
Tài khoản của bạn bị hạn chế bình luận
Hủy
Xem thêm bình luận
Bình luận
Báo chương xấu